RSS

Monthly Archives: June 2011

Làm cách nào để trở thành một người anh hùng?

Tất cả chúng ta, những người thông thường đều cho rằng, việc trở thành một người anh hùng (Hero) là công việc của một người khác, bất kỳ ai khác chứ không phải chúng ta.

Chúng ta đều mong muốn được giúp đỡ, được bảo vệ, mong muốn được thấy công lý được thực thi. Nhưng những công việc đó thuộc về trách nhiệm của một ai đó,một anh công an, một chú bộ đội xuất ngũ hay bất kỳ một tên khùng mặc quần sịp bên ngoài nào đó.

Liệu điều đó có công bằng?

Tại ZAG Village, chúng tôi quan điểm rằng : thay vì phải trông đợi vào một người hùng nào đó, bạn phải trở thành một người hùng thật sự, để giải quyết các vấn đề của bạn.

Vấn đề còn lại chỉ là: làm cách nào để trở thành một người hùng?

Xin mời các bạn tham dự buổi chiếu phim và tranh luận: Làm cách nào để trở thành một người hùng của ZAG Village.

Nội dung:

18h00 ngày Thứ bảy: 02/07/2011

Chiếu phim : Watch man.

 

08h00 ngày chủ nhật: 03/07/2011

Chiếu phim: Kiss Ass

Xen kẽ giữa chiếu phim sẽ là hai bài tham luận nhỏ của CMO ZAG Village về cách trở thành người anh hùng. Sau đó các bạn thành viên của ZAG sẽ cùng thảo luận phát triển đề tài này.

Hãy đến vơí chúng tôi để được cảm nhận giá trị đích thực của một cộng đồng tự học và xây dựng trên nền tảng của sự Yêu thương – Chân thành.

Mức phí tham gia là 30.000 đồng/1 buổi đã bao gồm Pepsi và Bắp rang.

Bạn viết thư đăng ký về địa chỉ hieptran.zag@gmail với đầy đủ thông tin cá nhân (bao gồm cả số di động ) để nhận được thông báo chính thức về địa điểm.

Advertisements
 
Leave a comment

Posted by on June 28, 2011 in Thông báo từ ZAG

 

Tags: , ,

TÓM TẮT QUYỂN LUẬN VỀ QUỐC HỌC

“…nhiều phần tử thanh niên đã có tư tưởng cải tạo gia đình, cốt đánh đổ những thói gia đình áp chế mà biểu dương nhân cách của cá nhân….

…Nhưng cái văn hóa phương Tây phương mà người ta muốn hoàn toàn du nhập đó, ta cũng nên nhận rõ giá trị của nó là thế nào, trước khi hăm hở hoan nghênh…”

Luận về Quốc học – nhiều tác giả – tập hợp những bài viết về vấn đề Quốc học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 cho đến 1945 – là khoảng thời gian đất nước và thế giới có những biến đổi sâu sắc – do những cây bút nổi tiếng thời đó viết, mối người một góc độ, nhưng chung quy vẫn là cái tâm lo toan, xây dựng đất nước. Đây là một tài liệu cần thiết cho những ai quan tâm đến văn hóa dân tộc, đưa ra những luận chứng về vấn đề trong xã hội chúng ta ngày hôm nay.

Sách do NXB Đà Nẵng phát hành, tổng cộng có 708 trang được đánh số.

Mục lục

Xin chỉ đưa ra những điểm nhấn trong tập sách theo quan điểm của tôi

Đào Duy Anh
+Tổng luận về văn hóa VN (1938)

Trường Chinh
+ Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa VN mới lúc này

Nguyễn Hữu Cang
+ Trở ngại của văn hóa dưới ách đế quốc

Hoàng Đạo
+ Mười điều tâm niệm

Ngô Đức Kế
+ Luận về chánh học cùng tà thuyết. Quốc văn Kim Vân Kiều (Nguyễn Du)

Lưu Trọng Lư
+ Quốc túy

Phan Khôi
+ Người VN với óc khoa học (về sự phân loại) mới phát hiện

Trần Trọng Kim
+ Hoa hại của sự duy tân vội vàng nông nổi
+ Khoa học và tâm học
+ Luân lý Phật giáo

Nguyễn Triệu Luật
+ Một cách để gây cho dân tộc ta một cái nguyên tắc tinh thần

Vũ Ngọc Phan
+ Chung quanh cuộc tranh luận giữa Lê Dư, Phan Khôi và Nguyễn Trọng Thuật về vấn đề quốc học

Như Phong
+ Nghệ thuật với văn hóa

Kiều Thanh Quế
+ Bàn về quốc học

Lương Sơn
+ Văn hóa, chiến tuyến thứ ba trên mặt trận ngày nay

Hoài Thanh
+ Tiếng Nam phải giữ tinh thần riêng của tiếng Nam

Dương Bá Trạc
+ Chức trách các văn sĩ trong XH ta ngày nay

Hải Triều
+ Vấn đề dân sinh

Phan Châu Trinh
+ So sánh quân trị và dân trị chủ nghĩa
+ Dung hòa luân lý Đông Tây

Đinh Gia Trinh
+ Địa vị văn hóa Âu Tây trong văn hóa VN (1945)

Nguyễn Văn Vĩnh
+ Tại sao cần xét tật mình

Trích đoạn

“Như mọi sự tiếp xúc với một cái gì mới lạ, thoạt đầu người ta bị choáng mắt và mê hoặc. Người ta quên hẳn cái văn hóa ngàn xưa, hăng hái theo mới, trong khi chưa thấm nhuần được phần tinh hoa cao cấp của văn minh mới. Đó là thời kỳ bắt chước, thời kỳ dịch những sách Tây có tính cách bình dân, dịch tiểu thuyết nhiều hơn sách tư tưởng…”

“Sự hiểu biết người và vũ trụ sâu xa hơn lên bao nhiêu thì lại tăng gấp những nỗi băn khoăn và những hoài vọng lạ lùng bấy nhiêu”

“Nói như vậy không phải bảo rằng nó không có tính cách VN và không nối tiếp cái dĩ vãng mà nó thêm thắt và làm cho hoàn thiện hơn lên”

“Tout dire, pour tout connaitre, pour tout guérir – Nói hết, để biết hết, để chữa hết” – E.Zola. Le Dr. Pascal

Ý kiến cá nhân

Trong sách đề cập đến hình ảnh “ngựa mất cương” – trong thời buổi các nền văn hóa giao thoa, giới trẻ VN bối rối khi không biết nên đi đường nào cho đúng, không như xã hội xưa, mỗi người sinh ra số phận đã được định đoạt, đàn ông ôn văn luyện võ làm quan làm tướng, phụ nữ cầm kỳ thi họa, chăm sóc gia đình.

Tin chắc rằng ở một thiểu số nào đó, có những con người muốn bứt ra khỏi các lề thói xã hội. Giải thích cho sự vỡ òa của xã hội trước làn sóng tự do du nhập từ phương Tây. Chứng minh, sự kiện xảy ra trong đời không có gì là tự nhiên cả, tất cả đều mang tính mầm mống.

Có những bài viết từ năm đầu thế kỷ 20, mang giá trị vĩnh viễn. Tôi đọc thấy đâu đó điểm tương đồng giữa các nhà tư tưởng phương Đông và phương Tây.

Vì vậy, chúng ta cần có một kiến thức đủ lớn, và một tinh thần vững vàng, một trí tuệ sáng suốt để tiếp nhận, chắt lọc những giá trị thích hợp với cái “tôi” của mỗi người.

Đánh giá

Thiết kế, trình bày, chất lượng giấy: 8.5/10
Nội dung: 9/10
Giá: 8/10 (62.000 đồng)
Điểm tổng: 9/10

 

Hiệp Trần
Zag Village: True Happiness from the Inside
zagvillage.wordpress.com


 
Leave a comment

Posted by on June 24, 2011 in Giới thiệu sách

 

Sách và thư viện

Thật sự tôi không có nhiều sách. Cách đây vài năm, với ước muốn đạt được phẩm chất cao nhất cho cuộc sống mà chỉ sở hữu tối thiểu, tôi đã thực hiện những sự lựa chọn nhất định. Điều này không có nghĩa là tôi chuộng lối sống của một tu sĩ; ngược lại, loại bỏ càng nhiều sở hữu của chính mình sẽ mang đến cho mình sự tự do lớn lao. Một số bạn bè của tôi (cả nam và nữ) than phiền rằng, bởi vì họ có quá nhiều quần áo, họ phí nhiều thời gian trong cuộc sống để quyết định sẽ mặc thứ gì. Giờ đây khi tôi đã làm cho tủ quần áo của tôi giảm thiểu đến ‘màu đen cơ bản’, tôi không còn có vấn đề này nữa.

 Tuy nhiên, ở đây tôi không nói về thời trang, mà nói về những cuốn sách. Trở lại với chủ điểm của tôi, tôi đã quyết định chỉ giữ bốn trăm cuốn sách trong thư viện của mình, một số bời vì giá trị về tình cảm, một số khác bởi vì tôi luôn luôn đọc lại chúng. Tôi quyết định như thế vì nhiều lý do khác nhau, và một trong những lý do đó là nỗi buồn khi nhìn thấy những thư viện, mà chủ nhân đã khổ công góp nhặt trong suốt cuộc đời, thường bị người ta đem đi bán tống bán tháo lúc chủ nhân qua đời, không biểu lộ một chút tôn trọng nào đối với họ. Ngoài ra, tại sao tôi lại giữ tất cả những cuốn sách này trong nhà? Phải chăng là để chứng tỏ cho bạn bè tôi biết rằng tôi đã trau dồi trí tuệ như thế nào? Hay là để trang hoàng những bức tường? Những cuốn sách tôi đã mua có lẽ hữu dụng ở một thư viện công cộng hơn là ở trong nhà tôi.

 Tôi thường nói rằng tôi cần những cuốn sách của tôi trong trường hợp tôi muốn truy lục điều gì đó. Tuy nhiên, giờ đây, khi tôi cần tìm một điều gì đó, tôi mở máy vi tính, gõ một vài chữ chủ yếu, và mọi điều tôi cần biêt hiện lên trên màn hình — nhờ sự ưu đãi của internet, cái thư viện vĩ đại nhất trên hành tinh này.

 Dĩ nhiên, tôi vẫn tiếp tục mua những cuốn sách mà phương tiện điện tử không thể thay thế cho chúng; nhưng ngay sau khi tôi đọc xong một cuốn sách, tôi cho nó ra đi; tôi đưa nó cho ai đó, hoặc đưa nó cho thư viện công cộng. Mục đích của tôi không phải là để bảo vệ rừng cây hoặc để làm một người hào phóng. Tôi chỉ tin một cách đơn giản rằng một cuốn sách có cuộc hành trình riêng của nó, và không nên bị buộc phải nằm kẹt trên một kệ sách.

 Là một người viết văn và sống bằng tiền nhuận bút, có lẽ tôi đang làm một việc có hại cho chính bản thân tôi; nói cho cùng, người ta mua càng nhiều sách, tôi kiếm được càng nhiều tiền. Tuy nhiên, điều đó có thể không công bằng cho độc giả, đặc biệt trong những đất nước mà phần lớn ngân quỹ chính phủ bỏ ra để mua sách cho các thư viện thì rõ ràng không dựa trên hai tiêu chuẩn chính để có một sự lựa chọn nghiêm túc — niềm vui thích mà độc giả được hưởng khi đọc một cuốn sách, và phẩm chất của văn chương.

 Hãy cho những cuốn sách của chúng ta tự do du hành, để rồi chúng được những bàn tay khác chạm vào, và được những đôi mắt khác thưởng thức. Trong lúc tôi viết điều này, tôi thoáng nhớ lại một bài thơ của Jorge Luis Borges nói về những cuốn sách không bao giờ được giở ra một lần nữa.

 Bây giờ tôi đang ở đâu? Đang ngồi trong một quán café ở một thị trấn nhỏ thuộc miền Pyrénées của nước Pháp, thoải mái với máy điều hoà không khí, bởi vì ngoài kia trời nóng không chịu nổi. Tôi có đầy đủ những cuốn sách của Borges ở nhà tôi, chỉ cách nơi tôi ngồi viết bài này chừng vài cây số — Borges là một trong những tác giả mà tôi không ngừng đọc đi đọc lại. Nhưng tại sao tôi không đem cái lý thuyết của mình ra thực hành thử xem sao?

 Tôi băng qua đường và đi bộ khoảng năm phút, đến một quán café khác, quán này có trang bị những máy vi tính (một cái quán được biết bằng cái tên dễ nghe, nhưng lại nghịch lý, là ‘cyber-café’). Tôi chào người chủ quán, gọi một ly nước khoáng ướp lạnh, mở google, và gõ vài chữ của một câu thơ mà tôi còn nhớ, cùng với tên của tác giả. Chưa đầy hai phút, tôi có được cả bài thơ trước mặt tôi:

 

Có một câu thơ của Verlaine mà giờ đây tôi không còn nhớ nổi

Có một đường phố gần kề mà chân tôi không thể bước đến nơi

Có một tấm gương đã soi vào mặt tôi một cái nhìn trăn trối

Có một khung cửa lần cuối cùng tôi đã đóng lại rồi

Giữa những cuốn sách trong thư viện tôi (ngay giờ đây tôi có thể nhìn thấy chúng)

Có vài cuốn tôi sẽ chẳng bao giờ giở ra một lần nữa trong đời.

 

Tôi có cảm giác giống như vậy đối với nhiều cuốn sách mà tôi đã cho đi: tôi sẽ chẳng bao giờ giở chúng ra lần nữa, bởi vì những cuốn sách mới và thú vị đang được liên tục xuất bản, và tôi thích đọc sách. Giờ đây, tôi nghĩ thật là tuyệt vời nếu ai cũng có thư viện; nói chung, một đứa trẻ tiếp xúc với sách lần đầu tiên vì nó tò mò muốn khám phá những pho đóng bìa cứng trong đó có chứa những hình vẽ và chữ; nhưng tôi cũng có cảm giác tuyệt vời như thế khi một độc giả, trong một buổi ra mắt sách mới, bước đến tôi, cầm theo một cuốn sách cũ của tôi đã tả tơi vì đã được chuyền tay từ người bạn này đến người bạn khác hàng chục lần. Điều này có nghĩa là cuốn sách đã du hành cũng giống như tâm trí tác giả của nó đã du hành trong khi ông ta đang viết ra nó.

 

Sách hay

Thư viện

Paulo Coelho

Bản dịch của Hoàng Ngọc Trâm & Hoàng Ngọc-Tuấn

—————–

Dịch theo bản tiếng Anh của Margaret Jull Costa, “Of Books and Libraries”, trong Paulo Coelho, Like the Flowing River: Thoughts and Reflections (Sydney: HarperCollins, 2007), 71-74.

 

Nguồn: tienve.org

 
1 Comment

Posted by on June 23, 2011 in Bài sưu tầm

 

Tags: ,

Tóm tắt quyển Tuần làm việc 4 giờ

Tuần làm việc 4 giờ

Tác giả: Tim Ferriss

Số trang: 355
Giá bìa: 85.000đ

“Lão già béo ị hói đầu trong chiếc BMW mui trần màu đỏ” là viễn cảnh mà tác giả đã vẽ ra cho một cuộc đời thông thường.

Giả sử bạn là một thanh niên khỏe mạnh yêu đời thông minh có ý chí phấn đấu. Bạn cố gắng làm việc và học tập với mong muốn có được cuộc sống an nhàn khi về nhà. Dù có không ít thất bại, cuối cùng bạn cũng thành công, cuối cùng bạn đã trở thành người thành đạt, bạn có thể mua mọi thứ mà bạn muốn. Vượt qua giai đoạn khủng hoảng của tuổi trung niên trong bộ dạng của một người to béo hói đầu, bạn lái một chiếc BMW mui trần màu đỏ…

Bỏ ra những năm tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân để lao động cật lực hòng sống thanh thản lúc về già ? Như vậy có đáng không ? Nếu bạn phải cố gắng làm việc trong 30 – 40 năm, gần 500 tháng làm việc liên tục, thật là đáng sợ.

Xuyên suốt cuốn sách là DEAL (tiếng anh có nghĩa là đối phó), các chiến thuật giúp bạn cắt giảm thời gian đến mức tối đa, đạt được hiệu quả công việc tối đa và dùng thời gian còn lại để làm những điều có ý nghĩa với cuộc đời của bạn.

Đây là các bước mà các bạn sẽ dùng để làm mới bản thân mình:

D – Definition (Giả định, định nghĩa): Đảo ngược hoàn toàn những quan niệm phổ biến và đưa ra những cách hiểu hoàn toàn khác cho trò chơi mới. Phần giải thích cho những điều cơ bản nhất đối với việc thiết kế lại cuộc sống.
”Phần lớn mọi người đều không thích tiền, đa số họ mong muốn những thứ mà họ nghĩ phải tốn hàng tấn tiền mới mua được”
Đến với phần này, bạn sẽ được tiếp xúc với những định nghĩa lại kiểu như vậy, nó sẽ giúp bạn không tự giết chính tuổi thanh xuân của chính mình để lao vào kiếm một đống tiền – một con số – mà theo thời gian, để tăng cảm giác an toàn, con số đó ngày càng tăng lên, một cái vòng rat-race luẩn quẩn.

E – Elimination (Sự loại bỏ): Loại trừ những quan niệm lỗi thời về quản lý thời gian và sự hiệu quả. Giúp hạn chế tối đa thời gian làm việc từ 40h/tuần xuống còn 4h/tuần (chỉ là một hình tượng, nhưng có người nhờ đó còn tiết giảm xuống còn ít hơn thế ^^ – 2 giờ – xem thêm ví dụ về Maneesh Sethi) và tăng hiệu quả làm việc lên hàng chục lần nhờ những phương pháp như phớt lờ có chọn lọc, chế độ ăn kiêng hay bỏ qua những thứ thật sự không quan trọng. Kết hợp luật Pareto và luật Parkinson, bạn sẽ tìm ra cách để có một đống thời gian mà vẫn làm việc hiệu quả.
“Bận rộn là một hình thái của sự lười biếng: Lười suy nghĩ và hành động bừa bãi”
Yếu tố quan trọng đầu tiên để có một cuộc sống mơ ước: thời gian.

A – Automation (Sự tự động hóa): Đặt dòng tiền vào máy tự động bằng cách kinh doanh theo địa lý, thuê ngoài (outsourcing) và các quy tắc không cần ra quyết định. Cũng tương tự như những lý thuyết về dòng thu nhập bị động (passive income) của Robert Kyosaki, lý thuyết này bắt đồng tiền phải tự làm việc cho bạn mà không cần phải động tay vào nó quá nhiều.
Yếu tố thứ hai để có một cuộc sống thịnh vượng: Dòng tiền.

L – Liberation (Sự tự do): Là bản tuyên ngôn của những người có xu hướng tự do, làm xuất hiện những tư tưởng mới như nghỉ hưu ngắn hạn, phương thức kiểm soát từ xa hoàn hảo hay thoát khỏi sự bó buộc bạn với một nơi duy nhất.
Đây là yếu tố cuối cùng để tạo thành một cuộc sống mà bạn mơ ước: Sự tự do.

Vậy thì, lý do gì mà tôi tin tưởng vào cuốn sách, đơn giản là vì không chỉ là một doanh nhân thành đạt, Tim Ferriss còn sử dụng DEAL để trở thành:

– Vận động viên đấm bốc tự do, đã giành bốn giải vô địch thế giới.
– Người Mỹ đầu tiên trong lịch sử được ghi vào kỷ lục Guiness về tango. (Link Youtube)
– Giảng viên trường kinh doanh tại đại học Princeton, tạp chí NEXT và một số các tổ chức danh tiếng khác…
– Nhà ngôn ngữ học ứng dụng tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha (cha này là fan cuồng của lễ hộiOktoberfest của Đức đấy các bạn ạ).
– Nhà nghiên cứu chỉ số glycemic
– Vô địch giải quyền anh Trung Quốc
– Vũ công nhảy break-dance của MTV Đài Loan
– Cố vấn điền kinh cho hơn 30 người đang giữ kỷ lục kinh tế thế giới
– Diễn viên các phim truyền hình của Trung Quốc và Hồng Kông
– Phát thanh viên truyền hình của các đài Thái Lan và Trung Quốc
– Nhà hoạt động và nghiên cứu tị nạn chính trị
– Thợ lặn săn cá mập
– Tay đua mô tô

Thật là một danh sách đáng nể và đáng kinh ngạc, đó là lý do đáng tin cậy và thuyết phục nhất.

Ngoài mục đích thiết kế lại cuộc sống và sống một cuộc đời mơ ước mà không cần có một đống tiền, mục đích của cuốn sách không phải là dạy bạn làm giàu bằng cách đi đường tắt – cách không bao giờ hiệu quả – mà đơn giản hơn, nó dạy bạn đặt ra một câu hỏi là làm thế nào để làm chủ và học tất cả mọi thứ theo cách nhanh hơn và hiểu quả hơn, bao gồm cả làm giàu (câu dài ghê ^^). Đó chính là điều mà tôi rất tâm đắc, có cách nào có thể tiết kiệm thời gian hơn mà vẫn hiệu quả hơn không, có những cách suy nghĩ nào hiệu quả và nhanh chóng hơn không ? Có, có người đã làm được đấy thôi !

Phần kết, tác giả hiện vừa cho ra đời cuốn sách Four hour body, hiện cũng đã trở thành best seller, cuốn sách là sự thể nghiệm khoa học của chính cơ thể của tác giả để kiểm chứng cho những điều không tưởng (nín thở trong 5 phút dưới nước, nâng 500 pounds – gần 227kg – trong thời gian ngắn kỷ lục, chạy 500 miles – gần 804km – trong 12 tuần, giảm 100 pounds – 45.4kg trong 30 ngày,…). Toàn những điều đáng nể phải không ???

Chung Võ 

Thành viên Thôn Tiên Phong – ZAG Village

 
Leave a comment

Posted by on June 23, 2011 in Giới thiệu sách

 

Buổi hành thiền đầu tiên của làng ZAG – thôn Tiên Phong

Đứng trước những vấn đề cuộc sống (gia đình, bạn bè, học tập, tình cảm, công việc…) các bạn có bao giờ cảm thấy bế tắc, mất phương hướng, trốn tránh, hoặc muốn xa lánh mọi người không?

Có khi nào bạn nghĩ mình biết rõ những điều không làm mình vừa lòng nhưng vẫn cứ chấp nhận?

Có khi nào bạn nhận thấy mình không đủ sức mạnh để thay đổi xung quanh?

Có khi nào bạn thừa nhận mình chưa thật sự sẵn sàng cho việc vượt lên bản thân?

Phải chăng động lực không đủ mạnh hoặc các vấn đề thật sự không nhiều ý nghĩa với bạn như bạn tưởng?

Có khi nào bạn bối rối trước nhiều con đường, bạn đang đứng núi này nhưng cứ trông về núi nọ, quyết định không vững vàng, thiếu sự nhất quán? Chính vì vậy nên không có việc nào bạn hoàn thành cả, tất cả quanh bạn chỉ là sự dở dang?

Hay đã có bao giờ bạn nhìn nhận bản chất của cuộc sống mình chỉ gói gọn trong 2 từ: Đổ vỡ.

Người Tây Tạng có câu : “ Hãy hành thiền như thể tóc bạn đang bốc cháy”.

Hãy bắt đầu thiền tập với làng ZAG ngay trong Chủ nhật tuần này.

Nội dung của buổi sinh hoạt cụ thể như sau:

– Giới thiệu triết lý cơ bản về Thiền, công dụng khoa học của Thiền

– Thiền tập: ngồi thiền và thiền hành: giới thiệu phương pháp thiền tập

– Thiền Tây Tạng:  Tư duy về sự chết

– Đặt câu hỏi và trao đổi về thiề

– Trò chơi nhẹ.

-Ăn cơm chay – Ra về

Thời gian: 8h A.M Chủ Nhật, 26/06/2011
Địa điểm: Số 21 Hẻm Đống Đa – Đường Điện Biên Phủ P.25 Q.Bình Thạnh

Chi phí cho buổi này là 25.000 VNĐ ( tính luôn cả nước uống)
Bạn nào muốn tham gia vui lòng email đăng ký về hieptran.zag@gmail.com.

Chúc các bạn luôn vui, khỏe, hạnh phúc!!!

 
1 Comment

Posted by on June 23, 2011 in Thông báo từ ZAG

 

Tường thuật về buổi sinh hoạt 19/06/2011 của thôn Tiên Phong.

Xin chào các bạn.

Thay mặt Ban quản Trị làng ZAG, xin chân thành cám ơn bạn đã dự buổi offline ngày hôm nay về đề tài: Lắng nghe đồng đội trong sinh hoạt tập thể

Chúng tôi xin tóm tắt lại nội dung buổi sinh hoạt như sau:

Phần A. Các thành viên chia nhóm và cùng tham gia 2 trò chơi:

1. Xếp hình: Mỗi nhóm thi đua về thời gian xếp hình không mẫu, xoay vòng 3 lần. Mục đích: tạo sự gắn kết và phối hợp hoạt động ăn ý giữa các thành viên trong nhóm.

2. Những gì nên và không nên khi tham gia hoạt động nhóm: Mỗi nhóm có 20 phút để liệt kê những điểm nên hay không nên khi tham gia hoạt động nhóm trong các mối quan hệ (về công việc, gia đình, bạn bè). Những thành viên trong nhóm kể về câu chuyện thực tế cá nhân từng trải nghiệm để mọi người hiểu nhau hơn

Phần B. BTC trao quà

– Anh Nguyễn Vũ Đức Thuận: Đạt giải BTC bình chọn Giới thiệu sách hay nhất, phần quà là quyển sách Gửi người đi tìm hạnh phúc

– Nhóm 2: chiến thắng ở trò chơi Xếp hình. Đại diện là bạn Nguyễn Thị Hồng Loan nhận phần quà của BTC

 
1 Comment

Posted by on June 21, 2011 in Thông báo từ ZAG

 

Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa: Điển hình của tư duy giáo dục lạc hậu

Giáp Văn Dương

Dư luận đang “sửng sốt” với Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục & Đào tạo (BGD & ĐT). Sửng sốt không phải chỉ vì số tiền dự toán quá lớn: 70 nghìn tỷ đồng, mà còn vì chất lượng đề án quá thấp và tư duy giáo dục thể hiện trong đề án quá lạc hậu.

Đọc bản đề án 32 trang mang tên “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ giáo dục & Đào tạo (BGD&ĐT), bất cứ người quan tâm đến giáo dục nào cũng không khỏi ngỡ ngàng. Điều ngỡ ngàng đầu tiên là sự sơ sài của nó. Nếu không tính đến trang bìa, phần mục lục và sơ đồ phụ lục đính kèm thì bản đề án này chỉ có vẻn vẹn 29 trang đánh máy khổ A4. Tuy nhiên, phạm vi tác động của nó lại vô cùng lớn. Nó tác động trực tiếp đến gần 20 triệu học sinh và giáo viên trên toàn quốc. Số kinh phí dự trù để triển khai đề án cũng lên đến mức kỷ lục: 70 nghìn tỷ đồng!

Nhìn vào những con số này, bất kỳ người có nhận thức thông thường nào cũng phải giật mình vì cảm nhận về sự sơ sài và bất cập không thể tránh khỏi. Với người làm chính sách hoặc có chuyên môn về giáo dục, thì chỉ cần đọc qua bản đề án, sự sơ sài và bất cập của nó hiển hiện ngay trước mắt.

Bao biện

Một trong những nội dung quan trọng của đề án là phần II: “Đánh giá việc xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa hiện hành”. Phần này chia thành 6 tiểu mục, chiếm dung lượng khoảng 7 trang khổ A4. Tất cả các đánh giá trong mỗi tiểu mục này đều tuân theo mô-típ “ưu điểm & hạn chế” tối giản – tức là theo kiểu khen một tí, chê một tí – mà không dựa trên bất kỳ một cứ liệu khoa học nào. Với các đánh giá mang tính khoa học, bên cạnh phần thuyết minh thì con số, bảng biểu, hình vẽ… đóng vai trò linh hồn của đánh giá. Nhưng rất tiếc, những linh hồn này đã không hề xuất hiện. Cho nên, phần đánh giá này thực chất chỉ là phần bao biện vòng vo của các tác giả đề án.

Để có hình dung cụ thể, xin nêu ví dụ sau: Trong phần đánh giá về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đề án cho rằng: “Xét về tổng thể, quá trình xây dựng chương trình được qui định khá đầy đủ, rõ ràng và hợp lý”, nhưng “ các quan điểm định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi chương trình tiểu học” và “còn thiếu một số công trình nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển chương trình phổ thông”. Như vậy, quá trình xây dựng chương trình đã được tiến hành khi chưa có quan điểm định hướng đổi mới, chưa có đủ cơ sở khoa học – tức là làm mà không biết đang làm gì, và tại sao lại làm như vậy.

Chính kiểu đánh giá khen một tí, chê một tí như thế này đã thể hiện sự không nghiêm túc của các tác giả đề án, thực chất chỉ là một sự bao biện hoa mỹ có thể viện dẫn bất cứ khi nào bản đề án cần đến. Vì thế sẽ không ngạc nhiên khi những bao biện ở phần II này đã phát triển trở thành các lập luận tự mâu thuẫn trong những phần còn lại của nội dung đề án.

Sáo rỗng

Nếu xem xét bốn nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì thấy chúng hết sức chung chung, dùng đâu cũng được, cho bất kỳ đề án nào cũng được: quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật; đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm quốc tế, đảm bảo tính thống nhất toàn quốc và linh hoạt vùng miền, khả thi, phù hợp với đối tượng học sinh; đảm bảo tính đồng bộ về nội dung, phương pháp dạy học phương thức đánh giá kết quả học tập. Xin hỏi, có đề nào lại không quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật, có đổi mới nào lại không mang tính kế thừa, có đề án nào khi đang xin xét duyệt lại tự nhận là không khả thi, và đề án giáo dục thì đương nhiên phải phù hợp với học sinh. Cho nên, tất cả những thứ liệt kê trong bốn nguyên tắc này thực chất đều là những sáo ngữ vạn năng, dùng đâu cũng được, dùng đâu cũng đúng, không hy vọng mang lại bất kỳ ý nghĩa gì mới cho đề án.

Tương tự như các nguyên tắc đổi mới nêu trên, các định hướng đổi mới, như: điều chỉnh hài hòa, cân đối giữa “dạy chữ”, “dạy người” và từng bước “dạy nghề”; nội dung giáo dục mang tính cơ bản, hiện đại, thực tiễn giúp hình thành phát triển năng lực học tập – cũng không hề mới. So sánh với chương trình, sách giáo khoa hiện hành “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì chương trình, sách giáo khoa dự định hướng tới này thực sự là một bước tụt lùi.

Trong những định huớng còn lại, ngoài việc diễn giải hết sức sơ sài ý định tiếp cận phát triển năng lực thì đề án không cho thấy bất cứ một điểm nào mới. Nếu tước bỏ cụm từ “phát triển năng lực” ra khỏi đề án thì toàn bộ những định hướng chính này do đó nội dung của toàn bộ đề án, trở nên hết sức vô nghĩa, và phần nào vô duyên.

Tự mâu thuẫn

Chính vì sự không nghiêm túc trong việc xây dựng đề án, và sự mù mờ, tối nghĩa của các khái niệm và bản thân phương pháp tiếp cận được cho là mới của đề án, đã dẫn đến những mâu thuẫn nội tại của nó. Đây là điều tối kỵ của bất cứ đề án hay lập luận có tính khoa học nào.

Đề án cho rằng nội dung chương trình phải là “những tri thức cơ bản của nhân loại, những giá trị lịch sử, văn hóa tinh hoa của dân tộc, những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại của thế giới”, nhưng “thiết kế nội dung dạy học phải theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành”. Hai tiêu chí này rõ ràng là trái ngược nhau: một bên thì cố gắng ôm đồm mọi tinh hoa của dân tộc và thế giới cả trong lịch sử và hiện đại, còn bên kia thì lại chủ trương giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành. Trên thực tế, điều này còn mâu thuẫn với điểm “độc sáng” của đề án là tiếp cận theo hướng phát triển năng lực, vì nếu triển khai những nội dung này thì về thực chất đề án sẽ được triển khai theo hướng trang bị kiến thức của cách tiếp cận nội dung – thủ phạm làm cho chương trình và sách giáo khoa hiện hành trở nên bất cập đến mức cần phải thay thế như đánh giá trong phần II của đề án – do đó, những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành sẽ được lặp lại trong chương trình, sách giáo khoa mới.

Đi từ tiếp cận nội dung, trong đó chú trọng dạy kiến thức, sang tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng phát triển năng lực cá nhân của học sinh, đòi hỏi một nguồn học liệu rất đa dạng và một tư duy linh hoạt, biện chứng, khuyến khích sự đa dạng. Nhưng việc lựa chọn chỉ có một chương trình, một bộ sách giáo khoa duy nhất dùng chung cho cả nước lại mâu thuẫn với chính mục tiêu phát triển năng lực của học sinh.

Sự tự mâu thuẫn này còn thể hiện ở các định hướng xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách giáo khoa duy nhất nhưng lại phải linh hoạt vùng miền. Đảm bảo thống nhất tòan quốc nhưng các địa phương lại được quyền biên soạn các tài liệu giáo khoa hỗ trợ.

Những phân tích trên còn chưa xét đến sự mâu thuẫn trong toàn bộ quy trình làm việc, như xây dựng chương trình trước khi xác định rõ mô hình giáo dục và trước cả việc ban hành chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, như giới chuyên gia đã chỉ ra trong những ngày qua.

Sở dĩ xảy ra các mâu thuẫn này là do tư duy của Bộ giáo dục & Đào tạo về giáo dục nói chung, và tư duy về sách giáo khoa nói riêng, đã quá lạc hậu và cần phải thay đổi.

Mập mờ

Sự mập mờ đầu tiên trong đề án là mập mờ về tài chính. Tiếng là đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa mà kinh phí dành cho xây dựng chương trình và sách giáo khoa chỉ chiếm 1,37% tổng kinh phí dự trù. Như vậy là nói một đằng làm một nẻo, nói vậy mà không phải vậy. Bộ giáo dục & Đào tạo mà nói một đằng làm một nẻo như vậy xin hỏi thì còn giáo dục được ai nữa?

Sự mập mờ thứ hai là với những đề án có kinh phí lớn như thế này, đặc biệt kinh phí phần lớn lại là vốn ngân sách, thì theo qui định của pháp luật, cần phải trình lên Quốc hội. Nhưng dường như qui trình này đã không được tôn trọng.

Sự mập mờ thứ ba trong đề án thể hiện ở sự thiếu rõ ràng về tiêu chí “đổi mới căn bản và toàn diện”. Đành rằng đã đổi mới thì ai cũng muốn đổi mới căn bản và toàn diện, nhưng căn bản và toàn diện như thế nào thì không nêu, nên nếu tước bỏ cụm từ “căn bản và toàn diện” này đi thì nội dung thực sự của đề án không hề thay đổi, vì trên thực tế, cụm từ này chỉ được sử dụng làm đồ trang trí cho đề án chứ không mang một nội dung cụ thể nào.

Sự mập mờ thứ tư là cách tiếp cận theo phát triển năng lực, điểm “độc sáng” của đề án, lại cũng hết sức thiếu rõ ràng. Những năng lực này là năng lực gì, vì sao phải có nó, và có ở mức độ nào, cũng không hề được làm rõ. Cụm từ “tiếp cận theo phát triển năng lực” vì thế cũng chỉ có giá trị trang trí chứ không mang nội dung cụ thể nào.

Sở dĩ người viết mạnh dạn đề xuất lược bỏ hai cụm từ “đổi mới căn bản và toàn diện” và “phát triển năng lực”, vì chúng thực sự không mang một nội dung cụ thể nào. Đã đổi mới thì bao giờ chẳng kêu gọi đổi mới căn bản và toàn diện; còn giáo dục theo hướng phát triển năng lực thì lạy giời, chương trình giáo dục nào chẳng hướng tới tiêu chí đó, trừ phi Bộ giáo dục & Đào tạo tổng kết cho thấy chương trình giáo dục và sách giáo khoa hiện hành đang hủy diệt năng lực của học sinh và cần phải thay đổi.

Tối nghĩa

Lý do ra đời cũng như nội dung mấu chốt của đề án sách giáo khoa này là lập luận sau: “chương trình, sách giáo khoa hiện hành được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung nên thiên về trang bị kiến thức khoa học bộ môn”; còn chương trình, sách giáo khoa xây dựng theo đề án này sẽ “tiếp cận theo hướng phát triển năng lực”, chẳng hạn “năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường…”

Đây có thể coi là điểm mới duy nhất của đề án này. Nếu không có nó, đề án không khác gì so với những đề án thay đổi chương trình, sách giáo khoa trước đó. Nhưng rất tiếc, sự độc sáng này lại phần nhiều là “trò chơi ngôn ngữ” hơn là nội hàm khoa học mà nó có. Giả sử thay từ “năng lực” bằng “kỹ năng” thì sao? Trong văn cảnh mà đề án đề cập, khái niệm “năng lực” không khác gì so với khái niệm “kỹ năng”, ví dụ: năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường… chính là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xã hội, kỹ năng thích ứng với môi trường. Nhóm kỹ năng này được nhiều nhà nghiên cứu gọi với một tên khác phổ biến hơn là kỹ năng mềm, kỹ năng sống…

Bằng thủ thuật đổi từ đồng nghĩa trong cùng văn cảnh như thế, cách tiếp cận của đề án sẽ trở thành: tiếp cận theo cách phát triển kỹ năng. Nhưng từ xưa đến nay, có chương trình giáo dục nào không nhằm hướng tới phát triển kỹ năng của học sinh? Thực tế, các chương trình giáo dục đều nhắm đến phát triển tổng thể kỹ năng, tri thức, đạo đức và thể chất, chứ không chỉ nhằm phát triển kỹ năng đơn thuần.

Một cách tương tự, nếu thay chữ “năng lực” bằng “kiến thức” thì kết quả thu được cũng gần như trên. Lý do là năng lực và kỹ năng, kiến thức không bao giờ tách rời nhau. Một người không có năng lực chính là một người thiếu kỹ năng và thiếu kiến thức. Điều đó cho thấy, “điểm sáng” duy nhất của đề án không được sáng như các tác giả nghĩ, mà thực ra, hết sức mù mờ. Chỉ bằng một động tác thay những cụm từ đồng nghĩa, toàn bộ giá trị mới của đề án đã gần như bị loại bỏ.

Giả sử với sự mù mờ trong khái niệm như thế, những người soạn chương trình và sách giáo khoa sẽ gia công tập trung vào phát triển các kỹ năng và kiến thức nói trên, thì chương trình và sách giáo khoa mới sẽ còn kém chất lượng hơn chương trình và sách giáo khoa hiện hành rất nhiều. Vì như đánh giá trong phần I và phần II của đề án: “chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại, vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước” và có ưu điểm “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”, thì một chương trình và sách giáo khoa mới chỉ nhắm đến phát triển các năng lực đơn thuần sẽ là một bước lùi về mặt chất lượng.

Trên thực tế, chương trình và sách giáo khoa hiện hành cũng đã được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực chứ không chỉ tiếp cận nội dung thuần túy. Ví dụ chương trình tiểu học yêu cầu: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người. Có kỹ năng cơ bản về nghe nói, đọc, viết và tính toán. Có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh…”, thì rõ ràng chương trình này hướng đến phát triển cả tri thức và năng lực của học sinh tiểu học.

Vì thế, những khái niệm quan trọng nhất của đề án, lẽ ra cần phải làm rõ trước hết, thì lại trở nên rất tối nghĩa, được sử dụng với mục đích trang trí hơn là mang những nội dung khoa học thực sự.

Những thất bại trong cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua đều có một nguyên nhân là tư duy giáo dục đã quá mức lạc hậu. Đó là tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát toàn bộ. Nhưng tiếc rằng, chính tư duy này lại là sợi dây xuyên suốt bản “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” lần này. Vì thế, để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ – 70 nghìn tỉ đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, chính quyền địa phương – cũng như để không đẩy giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là hủy bỏ đề án này và triển khai việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

Vòng luẩn quẩn?

Theo đánh giá của đề án, một trong những lý do để thay đổi chương trình, sách giáo khoa hiện hành vì “các quan điểm và định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi xây dựng chương trình tiểu học. Nhưng sai lầm này dường như đang được lặp lại ở mức độ cao hơn. Trong khi chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 vẫn còn đang soạn thảo, và chưa biết đến bao giờ mới ban hành, thì đề án sách giáo khoa này, với tư cách là một phần của chiến lược giáo dục, lại được lên kế hoạch triển khai trước. Mô hình giáo dục phổ thông cũng chưa được làm rõ trong khi nội dung của nó lại được đầu tư xây dựng trước. Như vậy bài học về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, dù đã được viết thành một tiểu mục riêng trong đề án này, trên thực tế không hề được đoái hoài đến.

Nếu để ý, chương trình sách giáo khoa hiện hành được triển khai theo Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000, đến nay được 11 năm. Lần này, đề án cũng kéo dài trong 11 năm, 2011-2022. Những mốc thời gian 10-11 năm này tương ứng với 2 nhiệm kỳ làm việc. Dư luận vì thế sẽ có quyền đặt câu hỏi, liệu có tư duy nhiệm kỳ nào chi phối việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa này?

Viễn cảnh đáng sợ đó hoàn toàn có thể xảy ra, vì ngay như trong bản đề án này đề cập: Việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa lần này chỉ là bước “chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa trên cơ sở một bộ chương trình thống nhất trên cả nước”.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao BGD&ĐT không triển khai ngay một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa như các nước? Có cần thiết phải chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy không?

Niềm tin có còn?

Bộ chương trình, sách giáo khoa hiện hành được BDG & ĐT đánh giá là “lần đầu tiên trong lịch sử, bộ chương trình đã được xây dựng theo xu hướng quốc tế” và “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”.

Một chương trình và sách giáo khoa ưu tú như vậy, được biên soạn theo một quy trình “được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, hợp lý” như vậy, mà chỉ sau giai đoạn hoàn thiện 5 năm (2004-2006) đã phải biên soạn lại theo một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Người dân sẽ đăt câu hỏi: Những người tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa hiện hành, liệu có còn đủ năng lực để tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa mới hay không, khi sản phẩm của họ chỉ 5 năm sau đã phải sửa đổi toàn diện? Và trên hết, Bộ giáo dục & Đào tạo, tác giả của chương trình, sách giáo khoa hiện hành có còn đáng tin để triển khai đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa lần này?

Vì đâu nên nỗi?

Sở dĩ vấn đề chương trình, sách giáo khoa nói riêng và cải cách giáo dục nói chung gặp thất bại liên tiếp trong thời gian vừa qua, dẫn đến việc giáo dục mỗi năm đều trở thành vấn đề nóng của xã hội, là do tư duy giáo dục của Bộ giáo dục & Đào tạo đã quá lạc hậu. Muốn khắc phục được vòng luẩn quẩn này, đồng thời khôi phục niềm tin của xã hội đối với giáo dục, thì nhất thiết tư duy giáo dục cần phải thay đổi trước hết. Điều này đồng nghĩa với việc Bộ giáo dục & Đào tạo phải từ bỏ tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát mọi thứ, tham gia mọi khâu của mình.

Bộ giáo dục & Đào tạo phải lấy việc hàng năm cử hết đòan cán bộ này đến đòan cán bộ khác đi nước ngoài học hỏi mà nền giáo dục vẫn luôn luôn bất cập làm xấu hổ; phải nhìn dòng học sinh đang tìm cách “tỵ nạn giáo dục” ngày càng tăng, sự mệt mỏi của gần 20 triệu học sinh và giáo viên và hoang mang của ngần ấy bậc phụ huynh mỗi khi phải chạy theo những cải tiến-cải lùi đầy chắp vá, ngẫu hứng làm động lực từ bỏ tư duy giáo dục đã quá mức lạc hậu của mình. Bộ giáo dục & Đào tạo cũng cần phải gương mẫu trong việc dạy chữ – dạy người, không phải bằng việc dồn lực để ban hành một chương trình có nội dung lạc hậu như vậy, mà trước hết bằng việc làm của chính mình: dám từ bỏ những tư duy lạc hậu để hòa nhịp với dòng chảy thời đại.

Trong trường hợp Bộ giáo dục & Đào tạo nhất quyết không từ bỏ tư duy lạc hậu này, dư luận có quyền đặt câu hỏi tại sao Bộ giáo dục & Đào tạo lại làm như vậy? Có chăng lợi ích cục bộ nào đứng phía sau, hay chỉ đơn thuần là Bộ giáo dục & Đào tạo đang làm mà không biết mình làm gì và tại sao lại làm như vậy? Dù trường hợp nào xảy ra đi nữa thì dư luận cũng sẽ không bỏ qua cách làm giáo dục lỗi thời này, cụ thể hơn sẽ không bỏ qua đề án sách giáo khoa này, như phản ứng đã thấy trong thời gian vừa rồi.

Bản thảo của bài đăng trên Tạp chí Tia sáng.

 
1 Comment

Posted by on June 21, 2011 in Bài sưu tầm