RSS

Bạn thuộc về đâu?

Trên chặng bay từ Las Vegas về Chicago, tôi ngồi cùng dãy ghế với một gia đình trẻ người Trung Quốc. Cả hai vợ chồng khoảng trong tầm 40 trở lại và hai cô con gái, một chừng dưới mười và một tầm mười hai, miệng nói râm ran không ngớt. Một phần câu chuyện tôi nghe được như sau.

– Mommy, will you come back and live in China? – Đứa bé gái lớn hỏi

– Sure – Bà mẹ trả lời, có phần hơi lạnh nhạt và mắt vẫn dán vào quyển tạp chí của hãng Southwest Airlines.

– But when? Đứa lớn tiếp tục.

– When you all grow up and I get old. I need a house with a garden. But I don’t have them here – Bà mẹ trả lời, cuốn tạp chí đã khép lại, mắt hướng ra phía cửa sổ máy bay.

– So mommy… then I’ll have a job. I’ll earn a lot of money. I’ll buy you a house with a garden. I want you to stay here with us, not back to China.

Con bé cứ huyên thuyên mãi. Những điều nó nói ra có vẻ già hơn so với tuổi của nó. Tất nhiên, nó và em nó sẽ lớn lên trở thành những người gọi là Chinese Americans, tiếp thu nền giáo dục hiện đại của nước Mỹ, rồi ra trường, làm việc, đóng thuế, trả nợ, sống một một lối sống công nghiệp bận rộn. Nếu có việc làm tốt, nếu biết sống tiết kiệm, chi tiêu có chừng mực, nó sẽ thừa tiền để mua cho bố mẹ nó một ngôi nhà vườn trên đất Mỹ. Nhưng bố mẹ nó chắc chắn sẽ không cần một ngôi nhà vườn với đầy đủ tiện nghi trên đất Mỹ. Cái họ cần, có thể chỉ là một ngôi nhà giản dị với một khu vườn nhỏ, bên cạnh những người họ hàng, hay hàng xóm tốt bụng, nói cùng một thứ tiếng: tiếng Trung Hoa. Tôi ngồi nghe và cười thầm. Tôi đoán chắc người mẹ đang thả suy nghĩ của mình ra ngoài những đám mây, đang nghĩ về Trung Hoa, về một thành phố hay làng quê nào đó xa thăm thẳm trong miền kí ức.

***

Càng gần đến ngày tốt nghiệp, cũng như bao sinh viên du học khác, câu hỏi lớn nhất đối với tôi là: ở lại hay về Việt Nam? Ở? Về? Về? Ở? Chỉ là vậy thôi mà đủ để trăn trở ngày này sang tháng nọ. Được gì và mất gì trong sự chọn lựa trên?

Những sinh viên đi du học thường được chia làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất là những người  đi tự túc, gia đình chu cấp việc ăn học ở xứ người – hay mọi người vẫn hay gọi dí dỏm là học bổng Utachi. Nhóm thứ hai gồm những người đi học thông qua các kênh tài trợ từ ngân sách quốc gia, hay từ các tổ chức phi chính phủ, như học bổng 322, VEF, IFP, Fulbright, Endeavor, ADS, Chevening… Và nhóm thứ ba, chủ yếu là những người xin học bổng dưới hình thức RA (Research Assistant) hay TA (Teaching Assistant), nói nôm na là làm việc cho trường, cho giáo sư và đổi lại sẽ được miễn học phí, được chu cấp sinh hoạt phí hằng tháng cũng như bảo hiểm. Mức độ ràng buộc sau khi tốt nghiệp vì thế cũng khác nhau tùy thuộc vào từng nhóm. Với nhóm một và ba, sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể ở lại nước ngoài nếu tìm được việc và được công ty hay tổ chức nơi họ làm việc hỗ trợ thủ tục visa. Nhưng với nhóm hai, đa phần các du học sinh phải về nước dựa trên cam kết trước khi nhận học bổng, ngoại trừ trường hợp một số tiếp tục học lên tiến sĩ. Theo cam kết, các du học sinh này sau khi tốt nghiệp sẽ quay trở về phục vụ, đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam, và đó cũng chính là mục đích, tiêu chí của những kênh học bổng này khi tuyển chọn người để trao học bổng du học.

Những năm qua, số lượng người Việt Nam đi du học ngày càng nhiều. Rất nhiều người đã tốt nghiệp và đã quay về công tác tại Việt Nam, tạo nên một phần biến chuyển tích cực cho xã hội, nhưng cũng có một số lớn các bạn quyết định ở lại “xứ người” lập nghiệp. Khi được hỏi lí do ở lại, một số cười bảo: ở lại làm vài năm kiếm ít vốn, ít kinh nghiệm, rồi sẽ về. Rồi trước sau cũng sẽ về! Đúng, tôi biết, họ nói đúng, nhưng đằng sau câu trả lời vừa đùa vừa đúng ấy có biết bao điều băn khoăn và hoang mang. Băn khoăn liệu khi về, có được làm việc trong môi trường tốt, lương bổng phúc lợi xã hội có xứng đáng với những năm tháng đi học vất vả, nhất là đối với những sinh viên các ngành khoa học cơ bản và xã hội nhân văn. Và hoang mang vì thời cuộc, vì một đất nước đang lớn mạnh lên từng ngày, thay đổi theo từng ngày, nhưng bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn tồn đọng nhiều khía cạnh tiêu cực mà không chỉ ngày một ngày hai là có thể xóa bỏ ngay.

Ở Seattle có một quán ăn Việt Nam khá là ngon, có thể cho là quán ăn Việt Nam ngon nhất trên đất Mỹ mà tôi được đến thưởng thức cho đến thời điểm hiện tại. Quán Long, nằm ở Second Avenue, gần Pike Market. Dù là quán ăn Việt Nam nhưng lại rất đông khách Tây. Quán có đủ các món Bắc Trung Nam, từ phở, mì quảng, bánh cuốn thịt heo chấm mắm nem, hủ tiếu đến hến xào, mực bao tử nướng, chim cút rô ti, bún vịt nấu măng, sữa đậu nành, nước quất…Tất cả bàn ghế trong quán đều bằng ghỗ mun đen bóng khiến không gian bên trong đậm chất Đông Phương lẫn trong tiếng nhạc hòa tấu Trịnh Công Sơn dìu dặt nhẹ nhàng. Lần đầu đến quán, tôi đi cùng Uyên, một người bạn học ở Đại Học Washington. Uyên là thổ địa, nên chúng tôi tin tưởng Uyên tuyệt đối. Và đúng như vậy. Thức ăn ngon không chê vào đâu được. Và giá cả cũng rất hợp lí. Những ngày tiếp theo, Uyên bận bảo vệ luận văn, tôi và Hường, một cô bạn học cùng ở NYU, tự xoay xở đi chơi một mình, và thế là chúng tôi quyết định đến Long ăn cho thỏa thích, ăn đến khi nào ngán thì thôi. Trước khi ăn không quên chụp hình các món ngon cho lên Facebook cho chúng bạn thèm chơi. Rất nhiều người vào xem, rất nhiều người hỏi: Tại sao ở Mỹ mà lại đi ăn thức ăn Việt Nam? Một câu hỏi lớn? Tại sao?

Có lẽ chỉ những ai đã từng đi xa nhà, xa quê hương mới có thể trả lời cho câu hỏi này.

Ngày đầu tiên đặt chân đến New York, việc đầu tiên là tôi xuống Chinatown cùng với một người bạn Việt Nam đã từng ở đây để mua một bao gạo, một gói thịt xay, một bịch táo, một con dao, một cái mở đồ hộp và một chai nước mắm. Nước mắm đã trở thành một thứ không thể tách rời của cuộc đời tôi, có thể cho là vậy. Bạn bè đùa bảo mày ăn nước mắm sao lấy chồng Tây được, mày phải tập ăn bơ, ăn sữa, ăn những gì không có nặng mùi! Không có gì là khó trong việc ăn bơ sữa và các sản phẩm chế biến từ bơ sữa, mới đầu có thể là khó ăn, nhưng dần rồi sẽ quen và ăn như một phản xạ tự nhiên khi người ta đói bụng. Nhưng nếu được hỏi có thật sự thấy ngon và thích thú không, thì câu trả lời chắc chắn là không. Nếu được chọn giữa một đĩa pasta và một tô mì quảng, tôi sẽ chọn mì quảng không do dự. Nếu để một miếng pizza và một đĩa bánh cuốn trước mặt, đương nhiên là tôi sẽ chọn bánh cuốn. Có thể bạn sẽ cười tôi, cho là tôi bảo thủ và không chịu tiếp thu cái mới cái lạ. Nhưng biết sao được, có thể là do tôi đi du học quá muộn, tôi đi khi cơm và nước mắm và những thứ mùi vị quê hương đã ngấm sâu vào da thịt. New York là nơi dễ sống, tuy nhà cửa đắt đỏ, cuộc sống xô bồ hỗn tạp, nhưng ăn uống lại thỏa mái, cái gì cũng có, từ rau lang, rau dền đến mắm tôm, mắm ruốc, rau muống, cà pháo… những thứ rất chi là quê hương, rất chi là Quảng… Điều khác nhau cơ bản là ở nhà có sẵn mà ăn, còn ở đây phải tự đi mua, về tự nấu tự chế biến, tự khen mình nấu ngon và tự thưởng thức. Những ngày tuyết rơi tơi tả, đi học về tranh thủ chạy xuống Chinatown mua ít rau quả “quê hương” và đồ hải sản, vai mang ba lô nào laptop, nào sách vở tài liệu, áo ấm dày cộm, hai tay khệ nệ hai túi thức ăn, cặm cụi đi ra bến subway, đôi lúc thấy mắt mũi cay xè, tự hỏi mình cuộc sống du học sinh là thế này sao, cái gọi là trải nghiệm cuộc sống là thế này sao, và khi đi học về, cái gì sẽ chờ mình ở phía trước? Nhưng rồi tặc lưỡi, dù sao mình cũng may mắn hơn các bạn đi học ở những bang xa xôi khác, muốn ăn thức ăn Việt Nam, dù là một chai nước mắm, phải lái xe hơn hai tiếng đồng hồ mới đến được chợ Việt hoặc chợ Hoa.

Khi đi xa, người ta mới thật sự nhận biết được mình cần gì, muốn gì, mình đã có những gì và mình có thể đánh mất những gì. Bạn hỏi chúng tôi vì sao ở Mỹ mà lại ăn thức ăn Việt Nam. Câu trả lời: Vì đơn giản chúng tôi là người Việt Nam. Dù đi đâu đi nữa tôi và chúng ta vẫn là người Việt Nam. Sợi dây dù vô hình nhưng trói chặt mỗi người đến mức dù có chối bỏ thì nó vẫn hiện hữu ở một nơi nào đó, và vào một lúc nào đó nó trỗi dậy. Bạn không thể khẳng định là chưa một lần nào trong cuộc đời mình trên xứ người bạn có cảm giác thèm một tô canh chua ăn với cơm nóng và cá kho tộ, hay một đĩa rau luộc chấm nước mắm ớt tỏi cay xè. Bạn không thể không chạnh lòng và không ao ước được ngửi mùi trầm hương ấm cúng trong một đêm giao thừa linh thiêng. Bạn không thể không có lúc nhớ và mong được ngồi bia hơi tán phét, cà phê hay trà đá vỉa hè… Tất cả những gì mà bình thường chúng ta mặc nhiên công nhận hay cho đó là những thứ tầm thường vặt vãnh, thì khi bước chân rong ruổi ở một nơi xa lạ, bạn sẽ bất chợt thèm thuồng, thèm đến day dứt.

Khi chúng ta quyết định ở lại sau khi tốt nghiệp, điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta có một môi trường làm việc tốt hơn, lương bổng và các chế độ phúc lợi xã hội cao hơn, quyền tự do cá nhân và tự do ngôn luận rộng hơn, con cái chúng ta lớn lên sẽ được nhận một nền giáo dục tiên tiến hơn. Nhưng đồng thời, cùng với những cái được ấy, nói theo một người bạn của tôi, là “sự mờ đi của các ký ức, sự dần dửng dưng với quá khứ và quê hương, là mâu thuẫn và cố gắng cân bằng giữa khép và mở, là cố gắng hòa nhập rồi lại mỏi công tìm kiếm cái gọi là identity và nơi bạn thuộc về”. Chúng ta mất đi nhiều giá trị khác trong cuộc sống mà chúng ta chỉ có được khi sống trên quê hương đất nước của mình và nói thứ tiếng nói của dân tộc mình, thứ tiếng đã và đang âm thầm chảy trong từng mạch máu của mỗi người. Đó là lí do tại sao người mẹ trẻ kia chỉ muốn về lại Trung Hoa, muốn có một ngôi nhà nhỏ, một mảnh vườn nhỏ, và được sống cùng những người họ hàng, bạn bè thân thuộc. Cuộc sống giản dị, nhưng ấm áp và trọn vẹn, vì ở nơi đó, người mẹ kia, và tất cả chúng ta có cảm giác “Thuộc Về”, chứ không phải là nơi ở trọ.

Một buổi chiều nào đó, tôi không nhớ rõ, tôi và Huyền bạn tôi ngồi chơi ở công viên Battery Park. Chúng tôi nói với nhau rất nhiều về New York, về những được và mất nếu ở lại. Huyền bảo: “Em không muốn con mình sau này lớn lên cứ nửa nạc nửa mở, Tây không ra Tây và Ta không ra Ta, và không biết mình thuộc về nơi đâu”. Hạnh, Hoài, Nguyên, Tuấn, Linh, Thắng và những người bạn giỏi giang khác của tôi, họ sẽ ở lại, họ sẽ là những người thành đạt, góp thêm niềm tự hào của người Việt Nam trên xứ người. Đó là điều có thể khẳng định. Nhưng tôi cũng khẳng định thêm một điều nữa là, ở một nơi nào đó, vào một khoảnh khắc nào đó, các bạn của tôi, và biết đâu là tôi, sẽ thấy mình lạc lõng giữa vòng xoay bất tận của cuộc sống và ngẩn ngơ tự hỏi mình: Mình thuộc về đâu? Nơi mình đang ở là “good country”, nhưng đó có phải là “my country”?

Duyen Nguyen
Nguồn tccl.info
Advertisements
 
Leave a comment

Posted by on April 19, 2012 in Bài sưu tầm

 

Tags: ,

Trải nghiệm tự học của tôi

LTS. Tác giả bài viết tham gia diễn đàn kỳ này quê ở Bình Định, sang Úc từ năm 1982. Để mưu sinh, ông đi làm phụ bếp ban ngày, đêm đi học thêm. Từ một chân phụ bếp rồi phụ tá trong bệnh viện, ông đã trở thành tiến sĩ toán thống kê, tiến sĩ y khoa nội tiết học, chuyên gia nghiên cứu cao cấp hội đồng Nghiên cứu y tế và y khoa quốc gia Úc, giáo sư đại học New South Wales. Đến nay, ông đã công bố trên 160 công trình, bài báo khoa học và khoảng 100 báo cáo khoa học.

Bài học về sự chủ động trong học hành của tôi bắt đầu từ khoảng 30 năm về trước. Dạo đó, tôi mới sang Úc, và vào học chương trình master. Lần đầu tiên vào giảng đường, tôi bị sốc vì gặp một vị giáo sư cao tuổi rất lạ lùng.

Thầy đọc trò chép: cảnh quen thuộc trên các giảng đường Việt Nam.

Bài học đắt giá

Ông đến lớp học hoàn toàn tay không. Không có bài giảng, và cũng không có tài liệu như các vị giáo sư khác. Ông ngồi trên bàn viết, một chân chấm đất, một chân đong đưa, thỉnh thoảng đi qua đi lại, và nói chuyện suốt gần hai tiếng đồng hồ. Ông nói về nghiên cứu của ông là chính, và tỏ ra cực kỳ hào hứng. Sinh viên chúng tôi há hốc ngồi nghe, chẳng ghi chép gì cả, và… chẳng hiểu gì cả. Trong suốt thời gian đó, ông không hề đụng đến bút mực, và dĩ nhiên là không bao giờ viết gì trên bảng (thời đó chưa có powerpoint). Đến giờ tan lớp, có sinh viên thắc mắc tại sao thầy không viết gì để sinh viên ghi lại vài ý, ông thản nhiên trả lời: “Đó không phải là việc của tôi, tôi chỉ cho các anh chị ý tưởng, các anh chị hãy về mà tìm thông tin mà học thêm”.

Câu nói tìm thông tin mà học thêm đó chính là một phương pháp giáo dục phổ biến trong các đại học phương Tây. Đó cũng chính là khái niệm tự học mà thuật ngữ giáo dục gọi là autodidacticism. Thật vậy, sinh viên càng học cao càng được khuyến khích tự học. Ngay từ bậc cử nhân và thạc sĩ, sinh viên đã được cơ hội làm quen với việc chủ động tìm thông tin, thẩm định thông tin, phản biện, và làm nghiên cứu khoa học. Họ được huấn luyện để tự mình phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, được dạy kỹ năng tự làm nghiên cứu, rèn luyện tinh thần tôn trọng sự thật và khách quan trong phán xét. Do đó, khi sinh viên tốt nghiệp đại học, họ tự tin về kiến thức, năng động trong công việc, và sẵn sàng tham gia vai trò lãnh đạo (nếu cần).

Có lần tôi nghe một anh người Mỹ còn trẻ nói chuyện về một đề tài thần kinh mà tôi cứ tưởng anh là nghiên cứu sinh tiến sĩ, nhưng thật ra anh chưa tốt nghiệp trường y. Một lần khác, tôi chứng kiến hai em bé người Mỹ chỉ mới 13 tuổi trình bày lưu loát một nghiên cứu (do chính hai em thực hiện) trong hội nghị loãng xương quốc tế với trên 5.000 người tham dự. Sự tự tin và kỹ năng nghiên cứu của họ đã được hun đúc ngay từ lúc còn nhỏ. Họ tự học từ kiến thức căn bản, và vì họ tự mình thu thập thông tin nên họ cảm nhận được và tự tin với điều mình nói.

Ngược lại, sinh viên Việt Nam chúng ta có xu hướng thụ động và thiếu tinh thần tự học. Chẳng nói đâu xa, có thể lấy cá nhân tôi ra làm ví dụ. Khi mới vào học ở Úc, có lần tôi được cho một bài tập chỉ vẻn vẹn hai câu văn, yêu cầu bình luận về một công trình nghiên cứu. Thật ra, lúc đó, chẳng ai trong chúng tôi biết chủ đề của công trình nghiên cứu, vì sinh viên xuất thân từ nhiều chuyên khoa khác nhau. Cần mở ngoặc ở đây là lần đó bài làm của tôi thất bại thê thảm vì tôi chỉ lặp lại những kiến thức cơ bản, và thầy phê chỉ một chữ duy nhất “boring” (có nghĩa là đọc thấy chán, chẳng có gì sáng tạo) với điểm gần 0, điểm thấp nhất trong đời đi học của tôi. Nhưng chính qua câu hỏi đó, chính qua sự thất bại thê thảm đó, tôi có dịp chẳng những tự tìm hiểu những vấn đề cơ bản, mà còn học cách đặt vấn đề, lượng giá khoa học của thông tin, và nhất là phát hiện vấn đề.

Môn thể thao trí tuệ tuyệt vời

Cũng chính qua thất bại đó mà tôi ý thức được sự khác biệt về cách dạy học ở Việt Nam và Úc. Trong khi ở Việt Nam, chúng ta quen với cách học “thầy giảng trò chép” bấy lâu nay, thì ở ngoài người ta đã bỏ cách dạy đó và tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự tìm tòi để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Tôi có thể ví cách học ngoài này là người thầy cho sinh viên cái “cần câu” hay phương tiện để sử dụng trong tương lai, và phương tiện đó chính là tư duy độc lập và chủ động. Một khi sinh viên đã có phương tiện và tự tạo ra hay thu thập được dữ liệu / kỹ năng mới, họ sẽ tự tin hơn và hứng thú hơn với thành tựu của chính mình. Nếu họ chỉ sử dụng dữ liệu của người khác một cách thụ động thì đó không phải là cái gì đáng tự hào và sinh viên sẽ trở nên thiếu tự tin. Phải gần một năm trong môi trường giáo dục ở Úc, tôi mới làm quen với cách học chủ động.

Phần lớn sinh viên Việt Nam (hay Á châu nói chung) có xu hướng học theo công thức, nhưng còn rất kém trong sáng tạo. Thật vậy, kinh nghiệm của tôi trong vai trò người dạy cho thấy sinh viên Việt Nam nói chung giỏi giải những bài toán khó, nhưng khi hỏi họ ứng dụng trong thực tế thì họ gần như… bí. Khi học trong khuôn khổ, sinh viên Việt Nam rất khá; nhưng khi được cho “học tự do” như thiết kế thí nghiệm, phát kiến ý tưởng khoa học, thì sinh viên Việt Nam kém hẳn sinh viên địa phương. Do đó, trong những năm đầu, sinh viên Việt Nam khá hơn sinh viên Úc, nhưng khi học lên càng cao thì sinh viên Việt Nam càng kém.

Sinh viên Á châu và Việt Nam cũng kém tinh thần làm việc trong đội (team work). Một anh bạn tôi là giáo sư hoá học của đại học New South Wales nhận xét rằng khi làm việc trong nhóm, sinh viên phương Tây thường năng động, phát kiến tốt, tìm cách giải quyết vấn đề, chủ động đóng vai trò lãnh đạo; còn sinh viên Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng chỉ giỏi làm những nhiệm vụ được giao phó! Anh bạn tôi kể rằng có lần anh đưa một sinh viên Úc năm cuối chương trình kỹ sư làm một đề án chuyên môn, sau khi nghe qua mục đích đề án chừng nửa giờ, cô ta đi tìm tài liệu, chủ động liên lạc với các tổ chức về môi sinh, với những chuyên gia khắp thế giới, thậm chí liên lạc cả Liên Hiệp Quốc mà không cần ai chỉ bảo. Về mặt kỹ thuật cô ta cũng tự học lấy những kỹ thuật tính toán mới mẻ bằng máy tính chưa hề được dạy. Sáu tháng sau, cô ta làm xong một công trình có giá trị, được đăng trong một tạp chí quốc tế, và có ít nhiều tiếng vang trong ngành. Sự tháo vát như vậy không phải là không có ở sinh viên Việt Nam, nhưng rất hiếm.

Tinh thần chủ động và tự học đóng vai trò rất quan trọng trong học tiến sĩ. Nghiên cứu sinh khi tốt nghiệp tiến sĩ phải chứng tỏ mình có những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành, phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, có kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình. Nhưng một trong những tiêu chuẩn của tiến sĩ là nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình độc lập sau khi tốt nghiệp. Nhưng kỹ năng này phần lớn là do nghiên cứu sinh tự học, chứ rất ít khi nào thầy cô “cầm tay chỉ việc”. Thật vậy, học tiến sĩ thường phải làm việc với một hay hai thầy / cô hướng dẫn. Có ba “loại” thầy hướng dẫn chính: nhà khoa học, doanh nhân, và nhà độc tài. Người thầy trong vai trò nhà khoa học là đồng nghiệp của nghiên cứu sinh, cho định hướng nghiên cứu, nhiệt tình nâng đỡ và chia sẻ kiến thức với nghiên cứu sinh để cả hai thầy trò có thể thành công trong trường khoa học. Người thầy kiểu doanh nhân là người rất bận, ít có thì giờ để thường xuyên gặp nghiên cứu sinh, nhưng lúc nào cũng đòi hỏi phải có “sản phẩm” (tức bài báo khoa học), mà không mấy quan tâm đến chuyện nghiên cứu sinh phải xoay xở ra sao. Người thầy kiểu nhà độc tài là người rất khó tính, xem nghiên cứu như là “nô lệ” phục vụ cho sự nghiệp của họ, lúc nào cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh phải báo cáo từng chi tiết một, và lúc nào cũng đòi hỏi phải có sản phẩm theo đúng định kì. (Cố nhiên, còn có một loại “thầy” thứ tư là loại… vô trách nhiệm, nhận nghiên cứu sinh mà không có định hướng cũng chẳng giúp gì cho nghiên cứu sinh, nhưng đây không thể xem là thầy nên không được tính ở đây). Dù học tiến sĩ dưới bất cứ loại thầy nào thì nghiên cứu sinh phải có tư duy độc lập, có tinh thần tự học và chủ động.

Tự học hay autodidacticism không dễ. Nó đòi hỏi người học phải tập trung, và học từ cơ bản chứ không phải học từ ngọn. Chẳng hạn như mỗi ngày tôi học một từ tiếng Anh, tôi phải học từ đó đến từ đâu, có nghĩa gì, và những cách sử dụng từ đó. Tự học không có nghĩa là học trong cô đơn, mà có giao tiếp với bạn bè để cùng học hỏi. Tự học không có nghĩa là chỉ đọc sách, đọc báo, mà phải làm theo sách, thực hành từ bài báo cho đến khi hiểu. Tự học cũng có nghĩa là học cách phản biện và phát hiện vấn đề. Tuy tự học không dễ, nhưng đó là hình thức thể thao trí tuệ tuyệt vời nhất và có hiệu quả nhất.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Những mục tiêu đó không thể chỉ học trong vòng vài năm, mà phải học suốt đời, chính vì thế mà ở các nước phương Tây người ta có khái niệm lifelong learning – học suốt đời. Học suốt đời là một cách để chúng ta hấp thu tri thức và kỹ năng mới qua học hành và kinh nghiệm không chỉ trong nhà trường mà còn ngoài xã hội nói chung. Nhìn như thế để thấy rằng tư duy tự học và chủ động học tập đóng vai trò quan trọng số một trong cuộc sống.

Nguyễn Văn Tuấn

Nguồn SGTT.vn

 
Leave a comment

Posted by on April 17, 2012 in Bài sưu tầm

 

Tags: ,

Vì sao người Việt không mê đọc sách?

Đối tượng chúng tôi muốn nói tới trong bài này, không phải là một vài người Việt đặc tuyển, mà là người Việt nhìn bao quát, người Việt nói chung;

– Hành động “đọc” không đơn giản là việc ngồi vào bàn, mà là cả văn hóa đọc với cơ cấu phức tạp của nó;

– Sự say mê không phải sự bốc đồng lửa rơm chốc lát mà là biểu hiện của một hoạt động tinh thần vững chắc được trí tuệ bảo đảm rồi thăng hoa;

Sau nữa, “sách” nói ở đây không phải là một vài tác phẩm văn chương mùi mẫn gây cười hoặc ít ra cũng du dương êm ái dễ đọc dễ bỏ mà bao gồm – nếu không chủ yếu là – cả các công trình nghiên cứu, các loại chuyên khảo, được viết đạt đến những chuẩn mực của tư duy.

Xét như thế thì chắc chẳng ai phải còn một chút phân vân gì nữa mà có thể thẳng thắn nói không, khi đối diện với câu hỏi “Người Việt có mê  đọc sách?”

Nhưng còn vì sao có hiện tượng đó? Xin tạm nêu ra mấy lý do:

– Ở ta không có văn hóa làm sách; các hoạt động xuất bản trước kia gần như chưa có.

– Con người nặng về tình mà nhẹ về lý, thường thích sống trong đám đông hơn là đơn độc với chính mình – tức là thiếu những phẩm chất mà việc đọc sách đòi hỏi.

– Xã hội không coi trọng kiến thức, người trí thức không được đánh giá đúng mức. Khi bản thân người làm nghề trí thức cũng đang còn lười đọc sách, thì đông đảo người dân có xa lạ với sách cũng là dễ hiểu.

Lấy đâu ra sách mà ham?

Có một khái niệm chưa thông dụng lắm, nhưng có lẽ trước sau chúng ta phải dùng tới là văn hóa sách của một dân tộc.

Ở  nhiều  nước, người ta biên soạn cả những bộ Bách khoa toàn thư về sách để ghi nhận mảng văn hóa sách này. Tức là họ thường xuyên tổng kết về công nghệ làm sách ở dân tộc mình: sách bắt đầu có từ thời nào, quan niệm về sách thay đổi ra sao, các dạng tồn tại của sách phong phú tới đâu vv…

Giả sử lúc này đây ở ta có ai muốn làm một cuốn sách như thế cũng không biết xoay xỏa thế nào. Tài liệu nghèo nàn, ngay tài liệu lưu trữ tối thiểu cũng không có. Và cái chính là số lượng sách in ra quá thấp, quan niệm về sách của chúng ta thì đơn sơ cổ lỗ.

Để làm ra sách cho cả xã hội, các nước cũng đã hình thành nên hoạt động xuất bản và thị trường sách. Ở ta, các ngành này – theo đúng nghĩa của nó – chỉ có từ thế kỷ XX, do sự du nhập từ nước ngoài. Còn trước đó, tất cả ở dạng sơ khai, sách ra đời theo cách thức tự phát, và việc nhân bản hết sức hạn chế, sách gần như chưa biến thành hàng hóa.

Một chỉ số nữa, cần tính tới mỗi khi định đánh giá một ngành văn hóa phát triển đến đâu, đó là khả năng của ngành đó trong việc vượt ra biên giới và giao lưu với các hoạt động cùng loại ở nước ngoài. Có lần tôi còn đọc thấy là thời trung đại, giữa Nhật và Trung Hoa có cả một con đường sách, tương tự như con đường tơ lụa nối Trung Hoa với thế giới A rập. Trong khi đó thì đọc lịch sử ta, chỉ thấy nói là những ông quan đi sứ mang về vài quyển sách loại ngẫu nhiên được tặng.

Sách đã in ra lại còn phải được tổ chức để đưa đến với người cần. Các tập Lịch sử văn hóa Trung Quốctôi đọc gần đây thường có một phần nói về thư viện, Đường Tống thế này Minh Thanh thế kia. Bảo rằng ở chỗ này các nhà nghiên cứu làm công việc trở về văn hóa VN sẽ không có việc gì để làm cũng không hẳn đã đúng, song như chỗ tôi đọc được,  trong một bộ sử cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, số lần hai chữ thư viện xuất hiện chưa được một chục.

Xa lạ với lý trí và thói quen nghiên cứu 

Chữ viết là một chỉ số của văn hóa. Trong xã hội ta, từ ngàn năm nay, tồn tại một tình trạng nước đôi dang dở. Chữ Hán vẫn là công cụ giao tiếp giữa nhà nước và người dân. Các cuộc thi cử sử dụng chữ Hán, sách vở quan trọng (ví dụ lịch sử) viết bằng chữ Hán. Một cách tổng quát, thứ chữ ngoại nhập này lại là công cụ để người ta nghĩ những điều nghiêm chỉnh. Còn chữ nôm chỉ để ghi cái đời sống tình cảm hàng ngày, hoặc kêu than, hoặc đùa bỡn. Vả chăng chữ nôm chưa hình thành như một hệ thống chặt chẽ hợp lý. Nó khó học do đó không phổ biến.

Tình trạng chữ viết ở Việt Nam như trên níu kéo văn hóa đọc với hai nghĩa:

Thứ hai, ở dạng gián tiếp, nó ảnh hưởng tới tư duy của con người.

Với một thữ chữ thuận tiện, người ta có thể ghi chép và hoàn thiện dần những suy nghĩ của mình và giao lưu với nhau làm cho tri thức ngày càng phong phú. Ngược lại, như ở ta, do thiếu phương tiện (chữ và sách) hợp lý để ghi lại những vận động trong đầu óc, sự suy nghĩ của người ta dễ dừng lại ở tình trạng manh mún rời rạc. Gần đây nhiều người đã công nhận là dân ta làm việc gì  thường theo lối chụp giật,  mà thiếu  thói quen nghiên cứu sự vật; sự nghĩ ngợi hay chắp vá nửa vời, đầu óc người ta không chăm chú theo đuổi cái gì tới cùng. Trong một cá nhân cũng như trong một tập thể, hành động được đề cao hơn suy nghĩ. Ta sống tùy tiện dễ dãi, “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”. Tất cả những bệnh trạng đó trong tư duy bắt nguồn một phần từ một văn hóa đọc lom đom, một đời sống tinh thần thiếu sách.

Đến lượt mình, kiểu tư duy này lại quay trở lại, cản trở người Việt đọc sách.

Đứng ở góc độ tâm lý học cá nhân mà xét, với sự đọc sách, con người phải trưởng thành như một nhân cách. Khi đọc sách, người ta phải có thói quen đơn độc trong suy nghĩ và làm việc. Sự hình thành loại người này đòi hỏi bệ đỡ của một nền văn hóa chắc chắn.

Tác động của việc kiếm sống

Ca dao tục ngữ truyện cười ở ta thường có thái độ chế giễu với người đọc sách. Dưới những con mắt thế tục, việc đọc sách có vẻ như là một cái gì vô bổ của loại người “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Đấy là hình ảnh người đọc sách trong tâm thức dân gian từ thời trung đại tới nay.

Cố nhiên trong thực tế, lại có một tình trạng tế nhị khác, là các làng xã thường đánh giá nhau bằng số lượng kẻ cắm đầu vào sách. Có gì mâu thuẫn ở đây chăng? Không. Học trò xưa ham học để có ngày lều chõng đi thi và trở thành quan chức (từ đây khái quát lên người ta vẫn tự hào người Việt ham học). Nhưng không thể bảo họ, – đám người “nghiền”  sách cốt đi thi  kia – là những người đọc sách với đúng nghĩa của nó. Người học để đi thi tự giới hạn trong kiến thức của người chấm cho họ đỗ. Ngược lại đặc trưng chủ yếu của người đọc sách là một tư duy độc lập và một khao khát bất tận với  sự hiểu biết. Loại sau ở xã hội ta quá hiếm, lại còm cõi ít ỏi và chưa thành một lớp người ổn định.

Giải thích sao về hiện tượng này? Suy cho cùng ở xã hội nghèo, mọi việc vẫn do miếng cơm manh áo quyết định. Khi có thể dùng sách để lập thân thì người ta đọc sách. Khi có nhiều con đường khác lập thân mà ít tốn sức lực hơn – kể cả lối giả vờ đọc sách, gian lận thi cử – thì người ta bỏ sách khá dễ dàng. Và đó chính là tình trạng của xã hội hôm nay.

Tốn công tốn của để đọc mà thu nhập chả hơn là bao so với người không đọc, thì cha bảo con vợ bảo chồng từ giã sách vở, ngồi xem tivi cho nhẹ thân. Sách không còn là nhân tố tất yếu trên đường mưu sinh, và việc đọc sách thường ngả sang một thứ trò chơi,- lý tưởng làm người có vì vậy mà có vẻ bị hạ thấp thì người ta cũng chẳng lấy làm hối tiếc.

Một giải pháp lâu dài 

Về phần mình, tôi cho rằng cần lùi xa một chút, nhìn rõ một thực trạng kéo dài, nó cũng là tiền đề để có những biện pháp tổng quát hơn có ý nghĩa lâu dài hơn. Vì thế nên có  nghiêng nhiều về việc đọc sách của tầng lớp trí thức.

Chính họ, theo tôi, là đầu tầu để thúc đẩy một xã hội hợp lý mà chúng ta phải xây dựng, ở đó sách là động lực thúc đẩy mọi tiến bộ,  nên sự ham đọc sách không còn bị rẻ rúng.

Hồi nhà đạo diễn Nguyễn Đình Nghi còn sống, ông hay nói với tôi về công chúng của sân khấu. Là con trai và người kế nghiệp Thế Lữ, ông Nghi khá thạo sân khấu trước 1945 và trong kháng chiến chống Pháp. Ông bảo, qua sự sa sút của công chúng thời nay, càng thấy công chúng thời trước rất nghiêm chỉnh. Họ đến với sân khấu thiêng liêng như đến với nhà thờ. Và Nguyễn Đình Nghi cắt nghĩa, sở dĩ trước 1945 người đến với sân khấu nói chung khá  tốt, mặt bằng khá cao, vì hồi đó, có một lớp công chúng chọn lọc là các trí thức xuất thân từ các nhà trường Pháp – Việt. Họ tạo nên những chuẩn mực trong thưởng thức và lôi cuốn công chúng rộng rãi nói chung.

Tình hình đọc sách gần đây cũng có nhiều nét tương tự như bên sân khấu, nên cách giải thích sự sa sút là gần nhau, từ đó cách tổ chức lại công chúng cũng không thể khác. Phải trở lại với cái đúng cái tốt đã có trong quá khứ.

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn

 
Leave a comment

Posted by on April 12, 2012 in Bài sưu tầm

 

Tags: ,

Xin thầy hãy dạy cho con tôi

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một con người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng một đồng đôla kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đôla nhặt được trên hè phố…

Xin thầy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng.

Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ.

Xin dạy cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ bị đánh bại nhất…

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách… nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã và cứng rắn với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã, xin hãy dạy cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt.

Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yểm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình…

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông đang gào thét… và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng…

Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện nên được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân, bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy. Nhưng xin thầy cố gắng hết sức mình, nếu được vậy, con trai tôi quả thật là một cậu bé hạnh phúc và may mắn.

(Trích thư của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học.)

 
Leave a comment

Posted by on April 3, 2012 in Bài sưu tầm

 

Tags: , ,

Cuộc sống qua trang sách thiếu nhi – Kì 3: Hãy hành động khi mất phương hướng.

CUỘC SỐNG QUA TRANG SÁCH THIẾU NHI

KÌ 3: HÃY HÀNH ĐỘNG KHI MẤT PHƯƠNG HƯỚNG

Có bao giờ bạn cảm thấy công việc hiện giờ không hợp với mình, có bao giờ bạn thấy mình đã chọn sai ngành học, mỗi sáng thức dậy, bạn không biết mình phải làm gì, cuối ngày nhìn lại, bạn không biết những gì đã làm được…?

Trong Alice lạc vào xứ thần tiên (*) có một mẩu đối thoại thế này

Alice: Từ đây tớ phải đi đường nào?

Chú mèo Cheshire: Đường đi phụ thuộc vào nơi bạn muốn đến.

Alice: Tôi không nghĩ nhiều đến điều đó.

Chú mèo Cheshire: Vậy thì đường đi nào cũng được, miễn sao bạn cố gắng đi đủ dài

Câu chuyện gợi mở cho chúng ta một câu trả lời cho những băn khoăn trên. Nhiều người khi bị mất phương hướng, thường có xu hướng chần chờ, ngẫm nghĩ. Chính trạng thái này một phần gây ra sự tiếp tục không hiệu quả trong công việc, và chuỗi ngày chán nản, mệt mỏi. Trong kinh tế, tài chính có một triết lý như thế này, không thể dựa vào một chỉ số (số liệu) để phán xét, để nhận định cần phải kết hợp nhiều chỉ số lại với nhau. Trường hợp này cũng vậy, nếu chỉ ngẫm nghĩ mà không làm gì, thì chúng ta cũng khó thể tìm được câu trả lời xác đáng.

Vì vậy, hãy hành động, hãy thay đổi một cách nghiêm túc, vì sao tôi nói “một cách nghiêm túc”? Chúng ta chỉ có thể nhận ra những điều hợp hay không phù hợp với mình thật sự khi chúng ta từng dấn thân vào nó một cách nghiêm túc. Đó chính là ý nghĩa của vế sau câu nói của chú mèo Cheshire “miễn sao bạn cố gắng đi đủ dài

(*) Alice lạc vào xứ thần tiên (1865) là cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu nhi của tác giả người Anh Charles Lutwidge Dodgson dưới bút danh Lewis Carroll.[1] Câu chuyện kể về cô bé Alice chui qua một hang thỏ rồi lạc vào thế giới thần tiên có những sinh vật kì lạ. (Theo vi.wiki)

Hiệp Trần

 

Tags: , ,

Cuộc sống qua trang sách thiếu nhi – Kì 2: Người ta không nghe thấy nhau

CUỘC SỐNG QUA TRANG SÁCH THIẾU NHI

PHẦN 2:  NGƯỜI TA KHÔNG NGHE THẤY NHAU

Cô đơn – là cụm từ thường xuyên xuất hiện trong xã hội hiện đại. Để bắt đầu cho việc hiểu nguồn gốc của sự cô đơn, tôi xin sơ lược truyền thuyết về loài thủy tiên được mô tả ở đầu truyện Nhà Giả Kim (Paolo Coelho).  Có một chàng trai tên là Narcissus, chàng vì say đắm vẻ đẹp của chính mình mà chết vì ngã xuống hồ trong lúc soi gương. Các vị thần đã hỏi vì sao Hồ Nước khóc, Hồ lời rằng “Tôi khóc cho Narcissus, nhưng tôi chưa từng nhận ra Narcissus xinh đẹp. Tôi khóc vì, mỗi khi chàng cúi mình xuống dòng nước của tôi, tôi có thể nhìn thấy, trong đôi mắt sâu thẳm của chàng, vẻ đẹp của tôi phản chiếu.

Chỉ trong vài dòng ngắn ngủi, tôi chợt nhận ra mình với những ích kỷ cá nhân. Chúng ta nói chuyện, lắng nghe rất nhiều nhưng liệu có xuất phát từ lòng cảm thông, chia sẻ thật sự, hay chỉ là sự chứng tỏ về kiến thức, hay khả năng chinh phục trong giao tiếp. Chúng ta có nhìn ra được ưu điểm của mọi người hay chỉ cố nhìn vào những điểm xấu như một các đề cao bản thân. Như Narcissus và Hồ Nước, không ai đến để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nhau cả, họ chỉ nhìn thấy nét đẹp của mình trong mắt nhau.

Sự cô đơn, một lần nữa có thể tìm thấy trong Hoàng tử bé. Hoàng tử bé (1943) là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry, kể về những quan sát từ chuyến chu du của cậu hoàng tử qua những tinh cầu trong vũ trụ. Những tiểu tinh cầu, là nơi một ngày chỉ bằng một giờ ở trái đất, là nơi chỉ cần chạy nửa vòng có thể thấy được hoàng hôn,… vẫn được ngự trị bởi một ông vua-không có thần dân, bởi một gã khoác lác chỉ sống một mình, hay là một bợm nhậu uống rượu suốt ngày để quên đi xấu hổ về việc mình uống quá nhiều…

Phải, Cô Đơn – là khi con người không thấy nhau, và không lắng nghe những giá trị chân chính mà bản thân theo đuổi.

 Hiệp Trần

Xem: PHẦN 1: ƯƠM LẠI ƯỚC MƠ

 

Tags: , , ,

Vai trò của kỹ năng trong việc phát triển bản thân

Vai trò của kỹ năng trong việc phát triển bản thân

Vai trò của kỹ năng trong việc phát triển bản thân

Tôi từng chứng kiến vô số những tay trẻ gục ngã giữa đường, gục ngã chỉ sau 1-2 năm ra trường, chỉ sau vài năm hào hứng và đầy tự tin về giấc mơ 1 triệu đô trước tuổi 30. Ảo tưởng! Tôi gọi đó là thế hệ “Cha giàu, con nghèo” khi có quá nhiều bạn trẻ ảo tưởng rằng sự giàu có đến nếu chỉ cần đọc thuộc làu cuốn sách Cha giàu, Cha nghèo, ảo tưởng về đầu tư tài chính, về thành lập công ty trước khi rời ghế nhà trường. Ảo tưởng về một thứ “đi tắc, đón đầu” khôn như chấy! Dĩ nhiên, không phải tất cả đều thất bại, nhưng hầu hết. Chỉ có vài người thành công, rồi thành công ấy lại được tô vẽ khiến những đứa trẻ khác ảo tưởng. Và kể cả vài sự thành công được tô vẽ đó cũng không biết sẽ màu mè được bao nhiêu lâu. Vô số xác chết doanh nghiệp, vô số những giấc mơ, tham vọng tan biến chỉ sau vài tháng bước chân vào công cuộc kinh doanh phũ phàng. Và những kẻ bại trận đó không nói một lời hoặc âm thầm cam chịu rồi từ từ biến mất…

Mơ một giấc mơ đẹp, bạn chỉ mất một ngày nhưng để có kỹ năng phát triển bản thân, làm nền tảng cho thành công của cả cuộc đời, bạn cần từ 5 năm tới 10 năm miệt mài, thậm chí cần cả cuộc đời không ngừng rèn luyện, trau dồi kỹ năng. Và bạn cần bắt đầu từ 14-15 tuổi hoặc sớm hơn chứ không phải chờ đến 25 tuổi, khi đã nếm trải thất bại, vét sạch số tiền tự mình tích góp được hoặc của bố mẹ tin tưởng giao cho. Lúc ấy, bạn chẳng còn cách nào ngoài “bám váy kẻ khác”. Và để thành công, bạn không cần gì khác ngoài những mơ ước, mục tiêu, sự nỗ lực không ngừng và nhất là phải trang bị cho bản thân những kỹ năng quan trọng, cần thiết đế hiện thực hóa những ước mơ đó.

Mười hay mười lăm năm trước, tôi rất ngạc nhiên khi gặp những “đại gia” thực sự của Việt Nam, với những kỹ năng điêu luyện và thành thạo đến mức khó tin. Họ không có điều kiện học hành bài bản như hầu hết các bạn trẻ hiện nay, nhưng kỹ năng hoạch định kế hoạch, phác thảo tầm nhìn, tư duy, nói, viết, thuyết phục của họ thật tuyệt vời. Nhiều người trong số đó khi lập nghiệp chưa từng nghĩ sẽ sau này họ trở thành tỷ phú, họ đơn giản chỉ muốn làm việc với niềm đam mê chế tạo ra con xe, sản xuất cái quạt, chiếc đồng hồ… Tôi đã có dịp chứng kiến một “đại gia” ngồi chỉ bảo tỉ mỉ cho 3 kỹ sư thế hệ 7X, 8X từng chi tiết cần sửa của chiếc xe khách. Ông ta mới chỉ tốt nghiệp đại học Mỏ. Cũng chính “đại gia” đó đã phác ra mô hình khu trang trại bằng những que diêm cho đám kiến trúc sư học hành bài bản ngồi lọ mọ thiết kế chi tiết sau này. Tôi cũng từng nghe kể về kỹ năng của đại gia V., người đã chỉ cho các kỹ sư của mình từng vị trí rồi cách thức xây dựng của các tòa nhà trong cả một khu dự án hàng chục hecta. Bạn đừng cho rằng họ chỉ có tham vọng. Đừng nhầm lẫn rằng họ chỉ có mong muốn làm giàu. Đừng nghĩ họ chỉ quan tâm đến toàn cục hay vẻ bề ngoài. Tôi tin chắc những con người thành đạt đó thực sự nắm rõ về ngành nghề của họ hơn những kẻ tự xưng là chuyên gia, hay nhà chuyên môn chỉ biết nói nhăng nói cuội. Donald Trump chắc chắn không chỉ có tư duy kinh doanh, mà còn có tư duy về thiết kế hơn bất cứ tay kiến trúc sư hay thiết kế nào; Bill Gates không chỉ biết đến kiếm tiền mà còn nắm rõ các khối lập trình rồi diễn đạt nó cho đám lập trình viên, và còn rất nhiều bài học hữu ích từ những nhân vật nổi tiếng thành công khác nữa.

Tôi mê say tìm hiểu về Warrent Buffett qua cuốn sách Warrent Buffett – Sự hình thành một nhà tư bản Mỹ đã được Alpha Books xuất bản, đặc biệt là giai đoạn ấu thơ của ông. Bây giờ, nhiều người nói chỉ cần học các nguyên tắc đầu tư của ông là có thể kiếm tiền, giàu như ông. Này, đừng nhầm như thế. Đừng ảo tưởng rằng chỉ cần đọc qua loa vài nguyên tắc của ông rồi áp dụng nó để kiếm tiền. Nếu đọc kỹ hơn, bạn sẽ hiểu rằng, đằng sau những nguyên tắc tưởng như đơn giản chỉ cần học trong vài tuần là cả một quá khứ, bề dày kinh nghiệm hàng chục năm quen thuộc với các con số, quen thuộc với hoạt động doanh nghiệp…

Từ Henry Ford, Sam Walton cho đến Steve Jobs, tất cả họ đều giống nhau, tỉ mỉ trong từng chi tiết công việc với những kỹ năng tuyệt vời. Ai có thể tự tin rằng mình giỏi thuyết trình như Steve Jobs? Ai tự tin đã gõ búa nhiều như Henry Ford? Ai tự tin chú ý đến từng cái tăm, từng sợi chỉ trong từng cửa hàng bán lẻ như Sam Walton…? Trong tất cả mọi cuốn sách về các nhân vật lịch sử, chính trị gia, doanh nhân… tôi luôn dành mối quan tâm hàng đầu đến thời niên thiếu của họ. Tôi tò mò muốn tìm hiểu và khám phá xem họ đọc gì, làm gì, nghĩ như thế nào, rèn luyện ra sao… Sau này, nhiều hội thảo đều đề cập đến bí quyết làm giàu của W. Buffett và cuối cùng đưa ra lời khuyên rằng, hãy đầu tư theo cách của ông ta, bạn nhất định sẽ giàu. Thật điên rồ và ảo tưởng hết sức! Thử nghĩ xem, nếu bạn không có tố chất như W. Buffett, không nỗ lực rèn luyện suốt thuở thiếu thời, cũng không có kỹ năng thành thạo như ông, bạn sẽ không bao giờ giàu như ông ta chỉ thuần túy nhờ vào việc học các nguyên tắc đầu tư.

Sách không bao giờ đủ cho những người muốn rèn luyện kỹ năng, và đương nhiên, chúng ta không thể thiếu sách nếu muốn sở hữu những kỹ năng thành thạo. Một số cuốn sách mà theo tôi sẽ rất hữu ích đối với các bạn trẻ là Bộ S4S (gồm 50 điều trường học không dạy bạn, 20 điều cần làm trước khi rời ghế nhà trường, Bản CV hoàn hảo, Vượt qua thử thách trong phỏng vấn tuyển dụng) giúp các bạn trẻ trang bị nhiều kỹ năng cần thiết cho công cuộc tìm kiếm việc làm; Bộ Thật đơn giản: Thuyết trình, Phỏng vấn tuyển dụng, Quản lý dự án cung cấp cho bạn trẻ những bí quyết giúp bạn trau dồi được kỹ năng thuyết trình, thiết lập và quản lý các dự án công việc; hoặc gần đây nhất là những cuốn sách do Alpha Books biên soạn như Người giỏi không bởi học nhiều – chìa khóa tiếp cận với những kỹ năng sống và học tập thông minh để đat được những kết quả cao nhất; hay Những điều doanh nghiệp không dạy bạn – cung cấp những kỹ năng gần gũi và cơ bản nhất cần có đối với những sinh viên năm cuối hoặc những người vừa tốt nghiệp các trường đại học đang lao mình vào công cuộc tìm kiếm việc làm đầy tính cạnh tranh.

Bạn có thể đọc đến hàng trăm, hàng nghìn cuốn sách, nhưng điều then chốt nhất là bạn phải rèn luyện. Nếu muốn giỏi viết lách, bạn phải tập viết thư một trăm lần, thậm chí cả nghìn lần. Nếu muốn biết cách thuyết trình, bạn phải tập nói lưu loát, trình bày rõ ràng quan điểm của mình trước bạn bè, trước nhóm, rồi cho đến đám đông, không phải dăm mười lần mà hàng trăm, hàng nghìn lần. Nếu muốn lên kế hoạch tốt, bạn phải tập tành tỉ mỉ, chi tiết từ những bản kế hoạch nhỏ, dần dần đến kế hoạch cho những việc lớn hơn, kế hoạch cho 1 ngày, 1 tuần, rồi 1 tháng, 1 năm, 5 rồi 10 năm… Hãy hành động ngay từ hôm nay bằng cách trau dồi và hoàn thiện những kỹ năng của bản thân, nỗ lực làm việc, làm chủ cỗ xe thành công, làm chủ cuộc sống của bạn!

Chúc các bạn thành công!

Nguyễn Cảnh Bình – CEO Alpha Books

 
 

Tags: , ,